Bên cạnh những dãy trọ và nhà máy, vùng Bắc Tân Uyên vẫn còn những xóm vườn giữ nếp nhà Nam Bộ: nhà ba gian mái ngói hoặc mái tôn khuất sau hàng rào cây, sân gạch, giếng nước, mộ ông bà trong vườn, lối mòn dẫn ra bến sông. Nếp sống này rõ nhất ở các ấp ven sông Đồng Nai, sông Bé thuộc Thường Tân, Lạc An, Hiếu Liêm cũ, nay là xã Thường Tân, và rải rác quanh Tân Thành, Tân Định.
Bài này đi qua một ngôi nhà vườn điển hình, cách người gốc tổ chức không gian sống, quan hệ của họ với dòng sông, và những thay đổi khi vườn cây dần nhường chỗ cho đất ở và đường mới. Phần kỹ thuật trồng cây, sản vật vườn để danh mục nông nghiệp; ở đây là nếp sống và văn hoá.
Ngôi nhà ba gian và cách sắp xếp
Nhà vườn của người gốc vùng Tân Uyên thường theo kiểu nhà ba gian hoặc ba gian hai chái, khung gỗ, mái ngói âm dương hay ngói móc; nhiều nhà nay đã thay mái tôn, xây tường gạch nhưng giữ bố cục cũ. Gian giữa đặt bàn thờ ông bà, phía trước là bộ ván gõ hoặc bộ bàn ghế tiếp khách; hai gian bên là chỗ ngủ của các thế hệ. Nhà bếp tách riêng phía sau hoặc bên hông, nối với nhà trên bằng một lối nhỏ.
Nhà quay mặt ra đường làng hoặc ra sông, sân trước rộng dùng phơi lúa, phơi củi, phơi đồ và làm chỗ tụ họp khi có đám. Trước nhà hay có bàn thờ ông Thiên, một trụ nhỏ để thắp nhang ngoài trời theo phong tục Nam Bộ. Hàng rào thường là cây sống như dâm bụt, chè tàu, tre gai, vừa che chắn vừa làm ranh đất.
Bên trong, đồ đạc có tuổi đời nhiều chục năm: tủ thờ chạm, bộ ván gõ bóng loáng vì nhiều thế hệ ngồi, chiếc võng mắc ở hiên. Người đến chơi được mời ngồi bộ ván, uống trà, ăn trái cây vườn. Cách bày biện ấy nói lên nếp sống trọng khách, trọng gia đình nhiều đời của người miền Đông.
Phía sau nhà thường có giếng đào hoặc giếng khoan, lu chứa nước mưa, chuồng gà, đống củi, và một khoảng đất trống để phơi phóng. Nhiều nhà còn giữ chiếc cối xay, cối giã, bộ nia, nong treo trên vách như kỷ vật của thời làm ruộng, làm rẫy mà con cháu bây giờ ít khi dùng tới.
Vườn: chỗ ở của người sống và người đã khuất
Vườn nhà người gốc thường rộng, trồng xen nhiều loại cây ăn trái và cây lâu năm, xưa còn có mảnh rẫy trồng khoai mì, bắp. Vườn không chỉ là nơi sản xuất, mà là không gian sống: chỗ trẻ con chơi, chỗ phơi phóng, chỗ chăn gà vịt, chỗ người già đi dạo mỗi chiều.
Một nét đặc trưng là mộ ông bà đặt ngay trong vườn nhà. Ngày trước chưa có nghĩa trang tập trung, các gia đình chôn cất người thân trên đất mình; mộ được xây, sơn sửa mỗi dịp cuối năm, thắp nhang ngày giỗ, ngày Tết. Với người gốc, mộ trong vườn là sợi dây nối các thế hệ, cũng là lý do nhiều gia đình rất ngần ngại bán đất vườn.
Người mua đất ở vùng này cần biết điều đó: một thửa vườn có thể có mộ cũ, việc di dời phải thoả thuận với gia đình và làm theo quy định của địa phương. Người đến thăm nhà vườn cũng nên tôn trọng khu mộ, không ngồi lên, không cho trẻ con leo trèo.
Sống với sông Đồng Nai và sông Bé
Với các xóm ven sông, dòng sông là một phần của đời sống hằng ngày. Ngày trước, sông là đường đi chính: ghe xuồng chở nông sản, củi, gỗ xuôi về Biên Hoà, Sài Gòn; bến sông là chỗ tắm giặt, gánh nước, trẻ con tập bơi. Nhiều nhà vẫn giữ chiếc xuồng nhỏ để đi giăng lưới, thăm câu, qua bên kia sông thăm bà con.
Người ven sông biết mùa nước: tháng nào nước đục, nước lên, tháng nào nước trong, cá về. Họ dựng nhà trên nền cao, để chỗ trống cho nước lũ đi qua, trồng tre giữ bờ. Món ăn quanh năm gắn với cá sông, tôm tép, rau mọc ven bờ. Chuyện ngập, sạt lở và khai thác cát có bài riêng trong danh mục sông nước; ở đây chỉ nói rằng chính những thay đổi đó đang làm nếp sống ven sông khác đi.
Ngày nay, nhiều gia đình ven sông không còn sống bằng nghề sông, con cháu đi làm nhà máy hay buôn bán. Nhưng thói quen ra bến ngồi hóng mát buổi chiều, đi câu cá cuối tuần, ăn bữa cơm có cá sông vẫn còn. Với người mới đến, một buổi chiều ngồi ở bến sông Bé hay sông Đồng Nai cùng người già trong xóm là cách hiểu vùng đất nhanh nhất.
Nhiều gia đình đã cải táng, quy tập mộ vào khu riêng trong vườn cho gọn, xây tường thấp bao quanh.
Nếp sống của xóm vườn
Giờ giấc theo trời. Người già dậy từ lúc trời chưa sáng, ra vườn, quét sân; trưa nghỉ dưới bóng cây; tối ăn cơm sớm. Nhịp sống chậm ấy khác hẳn nhịp ca kíp của xóm trọ cách đó không xa.
Trọng tình làng xóm. Nhà nào có đám, cả xóm đến phụ; nhà nào có trái chín, chia cho hàng xóm. Đi ngang nhà ai cũng được mời vào uống nước, và từ chối mãi bị coi là xa cách.
Nói thẳng, ít khách sáo. Người miền Đông nói chuyện thẳng, mời thật, từ chối thật. Họ quý người nói thật, giữ lời, không vòng vo.
Giữ lễ trong nhà. Con cháu chào ông bà khi đi và về, ngày giỗ đông đủ. Khách đến nhà nên chào người lớn tuổi nhất trước.
Gắn với đình, miếu. Đàn ông lớn tuổi trong xóm vườn thường tham gia việc đình, cúng miếu; ngày cúng đình là dịp cả xóm gặp mặt.
Tự cung tự cấp một phần. Rau vườn, trái cây, gà vịt, cá ao, cá sông giúp bữa ăn đủ đầy, dù thu nhập chính đã chuyển sang công việc khác.
Món ăn và bữa cơm nhà vườn
Bữa cơm nhà vườn vùng Tân Uyên giản dị và theo mùa. Mùa mưa có măng, nấm mối mọc trong vườn cao su, rau rừng; mùa khô có trái cây chín rộ. Cá lóc, cá rô, cá trê bắt ở ao, ở mương; cá sông như cá lăng, cá chốt và các loại cá nhỏ tuỳ mùa nước. Những món như canh chua, cá kho tộ, rau luộc chấm mắm kho quẹt là món thường ngày.
Trong dịp giỗ, Tết, các bà làm bánh: bánh tét, bánh ít, bánh bò, bánh da lợn, chè đậu. Nhiều nhà vẫn giữ lò bánh, bếp củi phía sau để nấu những món cần lửa lâu. Người mới đến được mời ăn một bữa giỗ ở nhà vườn sẽ thấy rõ sự khác biệt giữa cơm quê và cơm quán ở khu công nghiệp.
Bếp nhà vườn cũng đổi theo thời: bếp gas, nồi cơm điện, tủ lạnh đã có mặt; một số món mua ở chợ thay vì tự làm. Nhưng các món gắn với ký ức gia đình vẫn được các bà truyền cho con dâu, cháu gái, như một phần của việc giữ nếp nhà.
Người già và ký ức của xóm
Ở mỗi xóm vườn, những người già là kho ký ức sống. Họ nhớ con đường đất đỏ trước khi được trải nhựa, nhớ bến đò ngày trước, nhớ những mùa nước lớn, nhớ những năm chiến tranh khi vùng ven rừng phía bắc là chiến khu và người trong xóm phải tản cư. Nhiều cụ kể rành rọt từng nhà, từng dòng họ, ai về đây trước, ai đến sau, đất nào xưa là ruộng, chỗ nào xưa là rừng.
Ký ức ấy hiếm khi được ghi lại. Khi các cụ mất đi, nhiều câu chuyện về nguồn gốc tên ấp, tên bến, về lệ làng hay về những người có công với xóm cũng mất theo. Một số gia đình, một số giáo viên trong vùng đã bắt đầu ghi chép, chụp ảnh, ghi âm lời kể của người già, coi đó là một cách giữ lịch sử làng.
Nếu bạn có dịp trò chuyện với người già ở xóm vườn, cứ hỏi về chuyện xưa. Phần lớn các cụ vui khi có người muốn nghe. Chỉ cần kiên nhẫn, không ngắt lời, tôn trọng những đoạn ký ức đau buồn và xin phép trước khi ghi âm hay đăng lại câu chuyện.
Khi vườn thành đất ở
Hơn hai chục năm qua, nhiều xóm vườn ở Bắc Tân Uyên đã thay đổi. Đường mới mở xuyên qua vườn, đất vườn được tách thửa bán làm đất ở, các dãy trọ mọc giữa những hàng cây cũ. Có gia đình bán một phần đất để xây nhà mới, cho con cháu học hành; có gia đình giữ lại trọn khu vườn như một cách giữ gốc.
Với người gốc, quyết định bán hay giữ vườn không đơn thuần là chuyện tiền. Vườn gắn với mộ ông bà, với ký ức tuổi thơ, với tư cách là người trong làng. Nhiều cuộc bàn bạc trong gia đình kéo dài nhiều năm, nhất là khi các anh chị em có ý kiến khác nhau.
Kết quả là một bức tranh đan xen: giữa xóm vườn cũ có căn nhà phố mới xây, cạnh nhà ba gian có dãy trọ, đầu ngõ vườn có tiệm tạp hoá. Người mới đến mua đất ở vùng này nên hiểu bối cảnh ấy để cư xử khéo với hàng xóm cũ, từ chuyện ranh đất, lối đi chung đến cây cối sát ranh.
Đến thăm một nhà vườn: vài điều nên nhớ
Nếu được người quen dẫn đến chơi một nhà vườn ở các ấp ven sông, những điều nhỏ sau giúp bạn được quý mến:
- Chào người lớn tuổi nhất nhà trước, xưng hô theo vai vế như chú, bác, ông, bà, cô, dì.
- Ngồi đúng chỗ được mời, thường là bộ ván hoặc bàn tiếp khách ở gian giữa; không tự đi vào buồng trong.
- Nhận ly nước, trái cây được mời; người miền Đông mời thật lòng, từ chối hoài dễ bị coi là khách sáo.
- Không tự ý hái trái trong vườn; hỏi trước, chủ nhà thường vui vẻ cho và còn gói thêm mang về.
- Tôn trọng khu mộ trong vườn và bàn thờ ông Thiên trước sân; không chụp ảnh bàn thờ khi chưa hỏi.
- Về khu bến sông, đi theo người nhà, không tự ý xuống tắm vì nhiều đoạn sông nước xoáy, bờ dốc.
Đổi lại, bạn sẽ có những buổi trò chuyện dài với người già về chuyện làng xưa, chuyện sông nước, chuyện chiến tranh, những điều không có trong sách nào.
Câu hỏi thường gặp
Ở Bắc Tân Uyên còn nhà cổ không?
Còn một số nhà gỗ kiểu ba gian có tuổi đời nhiều chục năm, chủ yếu ở các ấp ven sông và quanh trung tâm cũ, phần lớn là nhà ở của gia đình, không phải điểm tham quan. Muốn đến xem cần được người quen giới thiệu và chủ nhà đồng ý.
Vì sao người gốc hay để mộ trong vườn nhà?
Ngày trước chưa có nghĩa trang tập trung, các gia đình chôn cất người thân trên đất mình để tiện chăm sóc, cúng giỗ. Thói quen này phổ biến ở nông thôn Nam Bộ. Hiện nay việc chôn cất mới thường theo quy định của địa phương về nghĩa trang, còn mộ cũ được gia đình giữ gìn.
Mua đất vườn có mộ cũ cần lưu ý gì?
Cần hỏi rõ bên bán về mộ trong thửa đất, thoả thuận bằng văn bản việc di dời hay giữ nguyên, và làm thủ tục theo quy định của địa phương. Không nên tự ý di dời. Ngoài ra nên kiểm tra quy hoạch, mục đích sử dụng đất và lối đi trước khi đặt cọc.
Bàn thờ ông Thiên trước sân nhà là gì?
Đó là trụ thờ nhỏ đặt ngoài sân, phổ biến ở nhà người Nam Bộ, để thắp nhang vào buổi chiều hoặc dịp lễ, Tết. Đây là phong tục dân gian lâu đời. Khách đến nhà chỉ cần không đặt đồ lên trụ thờ và không chụp ảnh khi gia đình đang cúng.
Có thể đi dạo xóm vườn ven sông vào cuối tuần không?
Được, đường làng là đường công cộng. Bạn nên đi chậm, giữ trật tự, không vào vườn hay bến sông của nhà người khác khi chưa hỏi. Nhiều đoạn bờ sông dốc, sạt lở, nước xoáy; không tắm sông ở chỗ lạ và luôn có người đi cùng.
Nhà vườn ở đây khác nhà vườn miền Tây thế nào?
Nhà vườn miền Đông như vùng Tân Uyên nằm trên đất đỏ, đất xám, đồi thấp, ít kênh rạch hơn miền Tây; vườn trồng xen cây lâu năm, có mộ trong vườn, gắn với sông lớn thay vì mạng kênh chằng chịt. Kiến trúc nhà ba gian và nếp sinh hoạt thì khá giống.