Lễ Kỳ Yên là lễ cúng đình lớn nhất trong năm của các làng vùng Bắc Tân Uyên, cũng như khắp Nam Bộ. "Kỳ yên" nghĩa là cầu yên: làng cúng thần để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt, người trong làng bình an. Lễ thường kéo dài một đến ba ngày, gồm các nghi thức chính là thỉnh sắc, túc yết, đàn cúng tiền hiền hậu hiền, chánh tế, xây chầu và hát bội.
Thời điểm cúng tuỳ từng đình, theo lệ làng truyền lại: nhiều nơi cúng vào khoảng tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch, nơi khác cúng cuối năm hoặc theo mùa vụ, có đình cúng hai lần trong năm. Muốn biết ngày cúng của một đình cụ thể, cách chắc nhất là hỏi ban hội hương hoặc người già trong ấp từ trước vài tuần. Bài này mô tả trình tự thường gặp và những điều người ngoài làng nên biết khi đến xem hoặc được mời dự.
Ý nghĩa của Kỳ Yên với làng khai hoang
Với lưu dân đến vùng đất mới, rừng rậm, sông lớn, thú dữ và dịch bệnh là những nỗi lo thường trực. Lễ cầu yên là cách cả làng cùng nhau bày tỏ mong ước được che chở, đồng thời tạo dịp quy tụ người từ nhiều nơi về thành một cộng đồng. Ngày cúng đình là ngày cả làng gặp mặt, người đi xa về, việc làng được bàn, mâm cỗ được chia đều.
Đến nay, khi phần lớn người trong vùng không còn làm ruộng, ý nghĩa cầu mùa nhạt đi, nhưng ý nghĩa cộng đồng vẫn còn nguyên. Với các gia đình gốc ở Thường Tân, Lạc An, Hiếu Liêm hay quanh Tân Thành, ngày cúng đình gần như là một cái Tết thứ hai: con cháu đi làm ở Thủ Dầu Một, Dĩ An hay nội đô cũ đều cố về.
Lễ Kỳ Yên vì thế nên được nhìn như một sinh hoạt văn hoá cộng đồng có lịch sử mấy trăm năm, hơn là một nghi lễ chỉ dành cho người có đức tin. Người ngoài đến xem được đón tiếp, miễn là tôn trọng không khí trang nghiêm của các phần nghi thức chính.
Cũng nên phân biệt lễ cúng đình với các lễ hội lớn mang tầm cả vùng như lễ hội chùa Bà Thiên Hậu ở Thủ Dầu Một dịp rằm tháng Giêng. Lễ Kỳ Yên là việc riêng của từng làng, quy mô nhỏ, người dự chủ yếu là người trong làng và xóm giềng, nên không khí gần gũi và chân chất hơn hẳn.
Trình tự thường gặp của một kỳ cúng đình
Không có hai đình cúng giống hệt nhau; bảng dưới là trình tự phổ biến ở đình Nam Bộ, để bạn hình dung khi đến xem. Thứ tự và tên gọi có thể khác ở từng làng.
| Nghi thức | Diễn ra lúc | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Thỉnh sắc | ngày đầu, thường buổi chiều | rước sắc phong của thần từ nơi cất giữ về đình, có cờ, lọng, nhạc lễ |
| Túc yết | đêm đầu | lễ ra mắt, dâng lễ vật trình thần về việc làng mở hội |
| Đàn cúng tiền hiền, hậu hiền | trong ngày lễ | tưởng nhớ người khai phá và có công với làng |
| Chánh tế | đêm chính, thường về khuya | lễ tế trọng thể nhất, có chủ tế, bồi tế, đọc văn tế |
| Xây chầu | trước khi hát bội | mở màn hát bội, người đánh trống chầu là bậc cao niên có uy tín |
| Hát bội | xen giữa và sau các nghi thức | diễn tuồng cổ phục vụ thần và dân làng |
| Hồi sắc | ngày cuối | rước sắc về nơi cất giữ, kết thúc lễ |
Phần đông người xem có mặt vào buổi tối chánh tế và các suất hát bội. Nếu muốn tìm hiểu kỹ, đến từ chiều ngày đầu để xem thỉnh sắc và trò chuyện với người trong ban khi họ còn rảnh tay.
Đêm chánh tế: phần trang nghiêm nhất
Chánh tế thường diễn ra về khuya, khi làng đã tĩnh. Ban tế gồm chủ tế, các bồi tế, người xướng lễ, người đọc văn tế, mặc áo thụng, đội mão, đứng thành hàng trước ban thờ. Người xướng lễ hô từng bước nghi thức, các vị trong ban tế lạy, dâng rượu, dâng hương theo nhịp trống chiêng và nhạc lễ.
Văn tế được đọc bằng giọng ngân dài, nội dung kể công đức thần, nhắc tên làng, cầu cho làng yên ổn. Văn tế cũ viết bằng chữ Hán Nôm, nay nhiều nơi dùng bản dịch hoặc soạn lại bằng chữ quốc ngữ. Phần nhạc lễ do các đội nhạc lễ dân gian đảm nhận, kèn, trống, đờn cò hoà cùng nhau tạo nên không khí rất riêng của lễ đình Nam Bộ.
Người xem đứng hai bên hoặc phía sau, không đi ngang trước ban tế, không gọi điện, không bật đèn flash. Nhiều người lần đầu xem chánh tế ngạc nhiên vì độ dài và tính chặt chẽ của nghi thức; đó chính là phần mà ban hội hương gìn giữ kỹ nhất qua các đời.
Xây chầu và hát bội
Xây chầu là nghi thức mở đầu cho phần hát bội, do một bậc cao niên có uy tín trong làng đánh trống chầu. Người cầm chầu ngồi trước sân khấu, đánh trống để khen chê diễn viên trong suốt buổi diễn: tiếng trống thưởng khi diễn hay, tiếng trống nhắc khi diễn chưa tới. Đây là nét rất đặc trưng của hát bội đình Nam Bộ.
Hát bội ở lễ cúng đình trước hết là diễn cho thần xem, sau đó mới cho dân làng. Các tuồng thường diễn là tuồng cổ, đề cao trung hiếu tiết nghĩa. Ngày nay đoàn hát bội chuyên nghiệp ngày càng ít, nhiều đình phải đặt đoàn từ xa từ trước nhiều tháng; có nơi thay bằng cải lương hoặc đờn ca tài tử, có nơi giữ một suất hát bội tối thiểu cho đúng lệ.
Với trẻ con và người lao động trong xóm trọ, đêm hát bội là dịp hiếm hoi được xem sân khấu truyền thống tận nơi, miễn phí. Sân đình đông kín, người lớn ngồi ghế nhựa, trẻ con ngồi chiếu, xen giữa là hàng quà vặt. Đó là hình ảnh còn sống động của lễ hội làng ở vùng ven đô.
Nhạc lễ và đội lễ sinh
Âm thanh làm nên không khí của lễ cúng đình là nhạc lễ: trống, chiêng, kèn, đờn cò, đờn kìm, sanh, mõ hoà vào nhau theo những bài bản riêng cho từng bước nghi thức. Đội nhạc lễ thường là những người lớn tuổi trong vùng theo nghề từ trẻ, có khi được mời từ làng khác. Họ thuộc lòng trình tự, biết lúc nào nhạc dồn, lúc nào nhạc ngưng để người xướng lễ hô tiếp.
Bên cạnh nhạc lễ là đội lễ sinh, những người trẻ hơn được chọn để dâng hương, dâng rượu, dâng trà, đi theo các bước đã tập trước. Ở nhiều đình Nam Bộ, đội lễ sinh mặc áo dài màu, đi đứng theo nhịp, tay cầm khay lễ vật, tạo nên phần đẹp mắt nhất của buổi tế. Tập cho đội lễ sinh mất nhiều buổi, thường do các cụ trong ban hội hương trực tiếp dạy.
Cả nhạc lễ lẫn lễ sinh đều đang thiếu người kế tục, nhất là ở vùng có nhiều người trẻ đi làm công nhân theo ca. Nhiều đình phải dời giờ tập sang tối hoặc ngày nghỉ để con cháu trong làng tham gia được. Nếu bạn có con em muốn học, hỏi ban hội hương là cách tốt để bắt đầu.
Mâm cỗ, lễ vật và phần đóng góp
Lễ vật cúng đình thường gồm heo quay hoặc heo sống, xôi, gà, trái cây, bánh, trầu cau, rượu, hương, đèn. Các bà các chị trong làng chuẩn bị bánh từ mấy ngày trước; ngày chính, nhà bếp đình đỏ lửa từ sáng sớm để làm cỗ đãi khách. Sau lễ, lễ vật được chia cho người trong làng, gọi là hưởng lộc.
Kinh phí cúng đình chủ yếu từ đóng góp của dân làng và người có lòng, được ghi vào sổ, có nơi đọc công khai trong lễ. Không có mức đóng cố định; mỗi người góp theo khả năng. Người ngoài làng đến xem không bắt buộc phải góp, nhưng nếu muốn góp thì gửi trực tiếp ban tổ chức, nhận biên nhận hoặc được ghi tên.
Bữa cỗ đình thường đãi chung, ai đến dự đều có thể được mời ngồi. Nếu được mời, bạn cứ nhận, ngồi chung mâm với người làng, ăn uống vừa phải và cảm ơn khi đứng dậy. Đây là cơ hội tốt để người mới đến làm quen với người gốc trong ấp.
Phép lịch sự khi đến xem lễ Kỳ Yên
Những điều sau giúp bạn dự lễ thoải mái mà không làm phiền người tổ chức:
- Hỏi ngày giờ trước: lịch cúng thay đổi theo năm âm lịch và theo quyết định của ban hội hương; đừng dựa vào ngày năm ngoái.
- Trang phục chỉnh tề: nhất là khi vào khu chánh điện hoặc đứng gần ban tế; tránh đồ quá ngắn, quá sặc sỡ.
- Chụp ảnh có chừng mực: không chen lên trước ban tế, không dùng đèn flash trong lúc tế, không dùng thiết bị bay chụp từ trên cao khi chưa xin phép.
- Đi xe máy nhẹ nhàng: đường làng ngày lễ đông người, có đoàn rước; đậu xe đúng chỗ ban tổ chức chỉ.
- Giữ vệ sinh sân đình: mang rác ra đúng chỗ; sau lễ, người làng phải dọn dẹp rất vất vả.
- Không uống rượu quá chén: bữa cỗ đình có rượu, nhưng say xỉn gây chuyện là điều làng rất kỵ.
Nếu bạn là chủ doanh nghiệp, chủ trọ hay người kinh doanh trong ấp, tham dự lễ Kỳ Yên và đóng góp một phần là cách tự nhiên để thể hiện mình là thành viên của cộng đồng. Người làng nhớ những người có mặt vào ngày cúng đình.
Kỳ Yên đổi thay ở vùng ven đô
So với mấy chục năm trước, lễ cúng đình ở vùng Bắc Tân Uyên đã thay đổi nhiều. Lễ được rút ngắn để người đi làm tham dự được, các suất hát bội ít đi, mâm cỗ đơn giản hơn, rạp dựng bằng khung sắt thay cho tre lá. Một số phần như rước sắc đi quanh làng bằng kiệu đã thu gọn vì đường làng nay đông xe, có nơi chỉ rước trong khuôn viên đình.
Nhưng cũng có những thay đổi làm lễ rộng hơn. Con cháu đi xa góp tiền qua chuyển khoản, video lễ cúng được quay lại cho người không về được, doanh nghiệp và chủ trọ trong ấp đóng góp, người nhập cư đến xem ngày càng đông. Ban hội hương phải tính toán sân bãi, giữ xe, an ninh như tổ chức một sự kiện cộng đồng thật sự.
Điều được giữ chặt nhất vẫn là phần nghi thức cốt lõi: thỉnh sắc, chánh tế, văn tế, trống chầu. Các cụ thường nói có thể bớt cỗ, bớt hát, nhưng không được bớt lễ. Đó là cách một làng khai hoang giữ mình giữa những thay đổi rất nhanh của vùng công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Lễ Kỳ Yên ở Bắc Tân Uyên tổ chức vào tháng nào?
Không có ngày chung cho cả vùng. Mỗi đình cúng theo lệ riêng, phổ biến là khoảng tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch hoặc cuối năm, có nơi cúng hai lần. Bạn nên hỏi ban hội hương hoặc người lớn tuổi trong ấp trước vài tuần để biết ngày chính xác của năm đó.
Kỳ Yên và Cầu An khác nhau không?
Hai cách gọi thường được dùng gần nghĩa, đều là cầu bình yên cho làng. Ở một số nơi, Kỳ Yên chỉ lễ cúng đình lớn hằng năm, còn Cầu An có thể chỉ các lễ cầu an của chùa hoặc gia đình. Cách gọi cụ thể tuỳ theo thói quen từng làng.
Người ngoài làng có được ngồi ăn cỗ đình không?
Thường là được nếu ban tổ chức mời. Cỗ đình là bữa ăn chung của làng, khách đến dự lễ được mời ngồi là chuyện bình thường. Bạn nên chờ được mời, ngồi chung mâm, ăn uống vừa phải và nếu muốn thì đóng góp một phần cho ban tổ chức.
Trẻ em có nên dẫn đi xem lễ cúng đình không?
Nên, vì đây là dịp trẻ được xem nghi lễ và hát bội truyền thống. Chỉ cần giữ trẻ không chạy vào khu ban tế, không leo lên sân khấu, và đi cùng người lớn vì sân đình buổi tối rất đông. Phần chánh tế về khuya có thể quá dài với trẻ nhỏ.
Nghe trống chầu thế nào để hiểu?
Người cầm chầu đánh trống để khen hoặc nhắc diễn viên: tiếng trống dồn, rõ thường là khen một đoạn diễn hay; tiếng trống thưa, đơn có thể là nhắc. Cách đánh ở mỗi người mỗi khác. Người xem mới chỉ cần để ý không khí sân khấu sau mỗi hồi trống là cảm được.
Có thể quay phim lễ cúng đình để đăng mạng xã hội không?
Phần lớn các đình không cấm quay phim phần lễ hội công khai, nhưng bạn nên hỏi ban tổ chức trước, đặc biệt với phần chánh tế và khu ban thờ. Khi đăng, nên ghi đúng tên đình, tên làng và tránh bình luận chế giễu nghi thức.