Ở vùng Bắc Tân Uyên, nhiều hộ vẫn dùng nước giếng — giếng đào lấy tầng nước nông hoặc giếng khoan lấy tầng sâu hơn — song song hoặc thay cho nước máy. Nước ngầm ở đây hình thành từ nước mưa thấm qua lớp đất đỏ, sỏi đỏ và trầm tích bên dưới. Dưới đỉnh đồi mạch nước thường sâu, mùa khô có thể hạ thấp; ở vùng thấp ven sông và thung lũng mạch nước nông hơn nhưng dễ chịu tác động từ mặt đất.
Chất lượng nước giếng khác nhau rất nhiều giữa các nơi, có khi giữa hai nhà sát vách. Bài này giải thích nguyên lý nước ngầm của vùng, những dấu hiệu cho thấy nước có vấn đề và cách dùng an toàn. Bài không thay cho kết quả kiểm nghiệm; muốn biết chắc nước nhà mình, cần lấy mẫu xét nghiệm.
Nước ngầm ở đây đến từ đâu
Mỗi mùa mưa, một phần nước mưa thấm xuống đất thay vì chảy tràn ra suối. Lớp đất đỏ vàng và sỏi đỏ ở vùng đồi có độ thấm khá tốt, nước đi xuống cho tới khi gặp lớp đất đá ít thấm hơn thì dừng lại và tích tụ trong các lỗ rỗng, khe nứt, tạo thành tầng chứa nước. Người đào giếng gọi chỗ đó là mạch nước.
Ở vùng Đông Nam Bộ, nước ngầm thường chia thành nhiều tầng theo độ sâu, từ tầng nông ngay dưới mặt đất tới các tầng sâu hơn trong trầm tích cổ. Tầng nông được bổ sung nhanh sau mưa nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những gì trên mặt đất. Tầng sâu được che chắn tốt hơn, nhưng bổ sung chậm và nếu bị khai thác quá mức thì mực nước hạ dần qua các năm.
Địa hình đồi lượn sóng làm mực nước ngầm cũng lượn theo: dưới đỉnh đồi mạch nằm sâu, dưới thung lũng và bãi ven sông mạch nằm nông. Đó là lý do có nhà đào giếng vài mét đã có nước, có nhà ở lưng đồi phải khoan sâu hơn nhiều. Mùa khô kéo dài, giếng nông trên đồi có thể cạn hoặc nước đục, trong khi giếng ở chỗ thấp vẫn có nước.
Giếng đào và giếng khoan: khác nhau ở đâu
Hai loại giếng phổ biến ở vùng ven đô có đặc điểm rất khác. Bảng dưới so sánh định tính để người dùng hiểu rủi ro của loại giếng nhà mình.
| Khía cạnh | Giếng đào | Giếng khoan |
|---|---|---|
| Tầng nước lấy | Tầng nông gần mặt đất | Thường là tầng sâu hơn, tuỳ độ sâu khoan |
| Nguy cơ nhiễm bẩn từ mặt đất | Cao: nước mưa chảy tràn, nhà vệ sinh, chuồng trại gần đó dễ ngấm vào | Thấp hơn nếu ống giếng và nắp được làm kín đúng kỹ thuật |
| Mùa khô | Dễ cạn hoặc hạ mực nước ở vùng cao | Ổn định hơn nhưng vẫn có thể hạ |
| Sau ngập | Rất dễ bị nước ngập tràn vào | Có thể bị nhiễm nếu miệng giếng thấp, không kín |
| Đặc điểm nước thường gặp | Có thể đục, nhiễm vi sinh, nitrat | Có thể nhiễm sắt, mangan, chua tuỳ tầng địa chất |
| Bảo trì | Nạo vét, làm nắp, xây thành cao | Kiểm tra bơm, ống, đầu giếng; xử lý khi nước đổi màu |
Không loại giếng nào tự động an toàn. Giếng khoan sâu chưa chắc sạch hơn giếng đào; nước trong chưa chắc đã không có vi khuẩn hay kim loại hoà tan. Chỉ kiểm nghiệm mới trả lời chắc chắn.
Chất lượng nước theo đất đá và theo con người
Có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước giếng. Nhóm thứ nhất đến từ tự nhiên: khi nước đi qua đất đỏ giàu oxit sắt, qua các tầng trầm tích, nó hoà tan một số chất. Ở vùng đất đỏ Đông Nam Bộ, nước ngầm ở một số nơi có thể chua, nhiễm sắt hoặc mangan. Nước nhiễm sắt thường trong khi mới bơm lên, để một lúc chuyển vàng, có váng, mùi tanh, làm ố vàng thiết bị vệ sinh và quần áo.
Nhóm thứ hai đến từ con người: nhà vệ sinh, hầm tự hoại không kín, chuồng trại chăn nuôi, bãi rác, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên vườn, nước thải từ cơ sở sản xuất. Những nguồn này chủ yếu ảnh hưởng đến tầng nước nông, nhất là giếng đào đặt gần nguồn ô nhiễm hoặc ở chỗ thấp nhận nước chảy tràn.
Ở vùng đang đô thị hoá nhanh như Bắc Tân Uyên, nhóm thứ hai đáng lưu tâm hơn: mật độ nhà trọ, nhà ở dày lên, nhiều hầm tự hoại đặt gần giếng, nhiều khu đất mới chưa có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh. Một giếng đào từng cho nước tốt nhiều năm có thể thay đổi chất lượng khi xung quanh xây dựng dày đặc.
Với người thuê trọ, nguồn nước thường do chủ nhà quyết định. Nếu dãy trọ dùng nước giếng, người thuê có thể hỏi chủ nhà giếng loại gì, đã kiểm nghiệm khi nào, có bể lọc không và bao lâu thay vật liệu lọc một lần. Đó là những câu hỏi chính đáng, nhất là khi gia đình có trẻ nhỏ. Trong lúc chưa rõ, dùng nước đóng bình cho uống và nấu ăn là cách an toàn.
Dấu hiệu nước giếng có vấn đề
Một số vấn đề nhìn, ngửi được; một số khác hoàn toàn không có dấu hiệu. Bảng dưới gợi ý những dấu hiệu thường gặp và hướng xử lý ban đầu, không thay cho kết quả xét nghiệm.
| Dấu hiệu | Nguyên nhân thường gặp | Nên làm gì |
|---|---|---|
| Nước để lâu chuyển vàng, có váng, mùi tanh | Nhiễm sắt | Lắng, lọc qua bể có vật liệu khử sắt; kiểm nghiệm để biết mức độ |
| Cặn đen bám thiết bị, nước có màu sẫm | Có thể nhiễm mangan | Kiểm nghiệm, hỏi cơ sở chuyên môn về cách xử lý phù hợp |
| Nước đục sau mưa lớn | Nước mặt ngấm vào giếng, giếng không kín | Kiểm tra thành và nắp giếng, không dùng nước đục cho ăn uống |
| Mùi hôi, mùi trứng thối | Chất hữu cơ phân huỷ, nguồn thải gần giếng | Ngưng dùng cho ăn uống, tìm nguồn ô nhiễm, kiểm nghiệm |
| Vị chua, ăn mòn ống kim loại nhanh | Nước có độ pH thấp | Kiểm nghiệm, xử lý nâng pH theo hướng dẫn chuyên môn |
| Không có dấu hiệu gì nhưng người nhà hay đau bụng, tiêu chảy | Có thể nhiễm vi sinh | Đun sôi trước khi uống, kiểm nghiệm vi sinh, đi khám nếu kéo dài |
Những chất nguy hiểm nhất như vi khuẩn, một số kim loại nặng, hoá chất hoà tan thường không có màu, không mùi. Vì vậy nước trong, không mùi vẫn cần kiểm nghiệm định kỳ nếu dùng để ăn uống.
Kiểm nghiệm nước giếng: làm từ đâu
Kiểm nghiệm giúp biết chính xác nước nhà mình có vấn đề gì để xử lý đúng chỗ, thay vì mua thiết bị lọc theo cảm tính. Các bước chung như sau.
- Hỏi trạm y tế xã hoặc trung tâm y tế khu vực về nơi nhận kiểm nghiệm nước sinh hoạt và các chỉ tiêu nên xét nghiệm.
- Hỏi rõ cách lấy mẫu: loại chai, cách súc chai, lấy nước sau khi xả bao lâu, thời gian tối đa từ khi lấy tới khi nộp mẫu.
- Lấy mẫu đúng hướng dẫn, ghi rõ tên giếng, độ sâu, loại giếng, ngày giờ lấy.
- Nộp mẫu và chờ kết quả; giữ phiếu kết quả để so sánh qua các lần.
- Đối chiếu kết quả với quy chuẩn nước sinh hoạt hiện hành, hỏi người có chuyên môn về ý nghĩa các chỉ tiêu vượt ngưỡng.
- Chọn cách xử lý phù hợp với vấn đề cụ thể; sau khi xử lý nên kiểm nghiệm lại để xác nhận hiệu quả.
Thời điểm nên kiểm nghiệm: khi mới đào hoặc khoan giếng, khi mới chuyển tới nhà có giếng sẵn, sau ngập, khi thấy nước thay đổi bất thường, và định kỳ nếu dùng nước giếng để ăn uống.
Lọc và dùng nước giếng trong nhà
Cách xử lý phổ biến ở hộ gia đình là bể lắng và bể lọc nhiều lớp: nước giếng được bơm lên cho tiếp xúc không khí để sắt kết tủa, rồi chảy qua các lớp cát, sỏi, than hoạt tính hoặc vật liệu chuyên dụng. Cách này hiệu quả với nước nhiễm sắt, nước đục, nhưng không diệt được vi khuẩn và không loại bỏ được nhiều chất hoà tan khác. Vật liệu lọc cần được rửa, thay định kỳ, nếu không chính bể lọc sẽ thành nơi tích tụ chất bẩn.
Với nước uống, đun sôi là cách đơn giản để diệt phần lớn vi sinh vật, nhưng không loại được kim loại hay hoá chất. Thiết bị lọc nước gia đình có nhiều công nghệ khác nhau, mỗi loại xử lý một nhóm vấn đề; nên chọn dựa trên kết quả kiểm nghiệm và hỏi người có chuyên môn, không nên chỉ nghe quảng cáo.
Nhiều hộ ở vùng ven đô chọn cách kết hợp: nước giếng qua bể lọc dùng tắm giặt, tưới cây; nước máy hoặc nước đã lọc kỹ dùng nấu ăn và uống. Đây là cách hợp lý khi chưa chắc chắn về chất lượng nước giếng.
Giữ nước ngầm cho lâu dài
Nước ngầm là tài nguyên chung, không phải của riêng chủ giếng. Khi quá nhiều giếng cùng khai thác một tầng nước, nhất là các giếng công suất lớn phục vụ sản xuất, mực nước có thể hạ dần, giếng nông của các hộ xung quanh cạn sớm hơn. Pháp luật về tài nguyên nước quy định việc khai thác nước dưới đất; tuỳ quy mô và mục đích, việc khoan giếng có thể phải đăng ký hoặc xin phép. Người định khoan giếng mới, nhất là giếng phục vụ kinh doanh, nên hỏi chính quyền địa phương về quy định hiện hành.
Giếng bỏ hoang không trám lấp là con đường để nước bẩn trên mặt đất đi thẳng xuống tầng nước ngầm, ảnh hưởng cả khu vực. Khi không dùng giếng nữa, nên trám lấp đúng kỹ thuật thay vì để trống hay chỉ đậy tạm. Giếng đào bỏ hoang không có nắp còn là nguy cơ tai nạn cho trẻ em.
Ở cấp hộ gia đình, những việc nhỏ góp phần bảo vệ nước ngầm gồm: đặt hầm tự hoại xa giếng, làm hầm kín; không đổ dầu nhớt, hoá chất xuống đất; xây thành giếng cao, có nắp; giữ một phần sân là đất để nước mưa thấm xuống bổ sung tầng nước.
Khi khu vực đã có mạng nước máy, việc chuyển sang dùng nước máy cho ăn uống giúp giảm phụ thuộc vào tầng nước nông vốn dễ bị ảnh hưởng khi mật độ dân cư tăng. Thủ tục đấu nối và các vấn đề nước sạch trong đời sống được viết ở mục sống ở Bắc Tân Uyên của trang.
Câu hỏi thường gặp
Nước giếng ở Bắc Tân Uyên có uống được không?
Không thể trả lời chung cho cả vùng vì chất lượng nước khác nhau giữa từng giếng. Nhiều giếng cho nước dùng tốt sau khi xử lý, nhưng cũng có giếng nhiễm sắt, chua hoặc nhiễm vi sinh. Muốn uống nước giếng, nên kiểm nghiệm trước và ít nhất phải đun sôi.
Vì sao nước giếng mới bơm lên trong mà để một lúc lại vàng?
Đó là dấu hiệu thường gặp của nước nhiễm sắt. Sắt hoà tan trong nước ngầm không màu, khi gặp không khí bị oxy hoá thành dạng kết tủa màu vàng nâu. Có thể xử lý bằng cách cho nước tiếp xúc không khí rồi lắng, lọc qua vật liệu phù hợp.
Giếng khoan có an toàn hơn giếng đào không?
Giếng khoan lấy nước tầng sâu hơn nên thường ít bị nhiễm bẩn từ mặt đất nếu được làm kín đúng kỹ thuật. Tuy vậy nước tầng sâu có thể nhiễm sắt, mangan hay chất khác tuỳ địa chất. Loại giếng nào cũng cần kiểm nghiệm nếu dùng để ăn uống.
Nên kiểm nghiệm nước giếng ở đâu?
Có thể hỏi trạm y tế xã hoặc trung tâm y tế khu vực về nơi nhận kiểm nghiệm nước sinh hoạt. Ngoài ra có các phòng thí nghiệm được công nhận nhận mẫu nước. Hỏi rõ chỉ tiêu cần xét nghiệm và cách lấy mẫu để kết quả chính xác.
Khoan giếng ở nhà có cần xin phép không?
Tuỳ quy mô, mục đích và quy định hiện hành của địa phương. Giếng nhỏ phục vụ sinh hoạt gia đình thường có quy định khác với giếng phục vụ sản xuất kinh doanh. Nên hỏi chính quyền xã hoặc cơ quan quản lý tài nguyên nước trước khi khoan để tránh vi phạm.
Đã có nước máy rồi có nên giữ giếng không?
Nhiều hộ giữ giếng để tưới cây, rửa sân, dự phòng khi mất nước máy. Nếu giữ, cần duy trì nắp kín, thành cao để tránh nhiễm bẩn và tai nạn. Nếu không dùng nữa, nên trám lấp đúng kỹ thuật thay vì bỏ hoang để bảo vệ tầng nước ngầm chung.