Bắc Tân Uyên nằm trên dải đồi thấp lượn sóng, nơi vùng đồi phía bắc của miền Đông chuyển dần xuống đồng bằng thấp phía nam. Không có núi cao, không có đồng bằng rộng phẳng; mặt đất là chuỗi đồi bát úp sườn thoải nối tiếp nhau, xen giữa là các khe suối nhỏ chảy theo mùa đổ về sông Đồng Nai ở phía đông và sông Bé ở phía bắc.
Địa hình này quyết định nhiều chuyện thường ngày: đường đi lên xuống dốc, chỗ nào ngập khi mưa, vì sao khu công nghiệp nằm ở chỗ này mà vườn cây nằm ở chỗ kia. Bài này giúp người ở và người mới đến đọc được mặt đất, từ đó chọn chỗ ở, chỗ làm vườn, chỗ xây xưởng hợp lý hơn.
Một bậc thềm giữa vùng đồi và đồng bằng
Nếu đi từ trung tâm TP Hồ Chí Minh cũ lên phía bắc qua Thủ Dầu Một, Tân Uyên rồi tới Bắc Tân Uyên, người ta sẽ cảm nhận được mặt đất cao dần, dốc dần. Đồng bằng thấp, kênh rạch dày đặc ở phía nam nhường chỗ cho những vùng đất cao ráo, đất đỏ, đồi thoải. Bắc Tân Uyên nằm ở dải chuyển tiếp ấy, tiếp giáp với vùng đồi của Phú Giáo cũ ở phía bắc.
Chênh lệch độ cao trong vùng không lớn như vùng núi, nhưng đủ để tạo ra cảnh quan lượn sóng đặc trưng. Đứng trên một đỉnh đồi, người ta có thể nhìn thấy những dải đồi khác nối tiếp, phủ cao su và cây ăn trái, và ở xa là dải cây xanh sẫm ven sông Đồng Nai.
Đặc điểm "cao ráo" này khác hẳn những vùng ngoại thành phía nam của thành phố, nơi đất thấp, dễ ngập triều. Đây là một trong những lý do vùng đất phía bắc Bình Dương cũ được chọn làm nơi đặt nhiều khu công nghiệp: nền đất cao, ít ngập, dễ san lấp, gần các trục đường nối với cảng và sân bay.
Tuy nhiên, "cao ráo" là nói chung cho cả vùng. Trong lòng vùng đồi vẫn có những chỗ thấp trũng, và chính những chỗ ấy lại là nơi dân cư, đường sá, nhà trọ mọc lên nhiều nhất vì dễ làm đường.
Đồi bát úp và cách người ở đây sống cùng nó
Đồi ở Bắc Tân Uyên phần lớn có dạng bát úp: đỉnh tròn, sườn thoải, không có vách đá dựng. Hình dạng này hình thành sau thời gian dài mưa nắng bào mòn trên nền đá phiến và trầm tích cổ. Lớp đất đỏ vàng phủ bên trên dày mỏng khác nhau, có chỗ lộ tầng sỏi đỏ, đá ong.
Người ở đây tận dụng đồi theo cách phổ biến của miền Đông: trồng cao su, cây ăn trái, điều trên sườn; làm nhà ở lưng đồi hoặc chỗ đất bằng trên đỉnh; làm đường men theo sườn hoặc cắt thẳng qua. Những con đường đất đỏ uốn lượn lên xuống qua vườn cao su là hình ảnh quen thuộc của vùng.
Sống trên đồi có cái lợi là ít ngập, thoáng gió. Cái khó là nước sinh hoạt: giếng đào trên đỉnh đồi thường phải sâu mới tới mạch nước, mùa khô có thể cạn. Đường dốc cũng làm việc đi lại khó hơn trong mùa mưa, khi đất đỏ trơn và nước chảy xói mặt đường thành rãnh.
Ở nhiều nơi, đồi đã bị san bớt đỉnh để làm mặt bằng cho xưởng, khu dân cư. Cảnh quan vì thế đang phẳng dần, nhưng dấu vết của địa hình cũ vẫn còn ở những con dốc, những bờ ta luy hai bên đường.
Với khách từ nội đô lên chơi, những con dốc và khúc quanh trên đồi cũng là điều cần lưu tâm khi chạy xe: tầm nhìn bị che bởi sườn đồi và hàng cây, xe tải có thể xuất hiện bất ngờ ở đỉnh dốc. Chạy chậm, đi đúng phần đường và bóp còi khi vào khúc cua khuất là thói quen của người địa phương.
Suối nhỏ, khe cạn: những dòng nước theo mùa
Giữa các dải đồi là những khe suối nhỏ, có tên riêng ở từng địa phương, chảy từ vùng cao xuống, cuối cùng đổ ra sông Đồng Nai hoặc sông Bé. Phần lớn các suối này chảy mạnh trong mùa mưa và gần như cạn hoặc chỉ còn những vũng nước rời rạc trong mùa khô. Người lớn tuổi ở các xã cũ vẫn nhớ tên từng con suối gắn với xóm của mình.
Suối là đường thoát nước tự nhiên của vùng đồi. Mỗi trận mưa, nước từ các sườn đồi tụ về khe, theo suối ra sông. Hai bên suối thường là dải cây xanh, đất ẩm, ngày trước là nơi trồng lúa, rau, đào ao. Đây cũng là môi trường sống của cá nhỏ, ếch nhái, chim — những thứ ngày càng hiếm khi vùng đất được bê tông hoá.
Trong quá trình phát triển, nhiều đoạn suối đã bị san lấp, thu hẹp hay cho chảy qua cống ngầm. Khi lối đi của nước bị thu hẹp mà lượng nước mưa đổ về không giảm, thậm chí tăng do mặt đất bê tông hoá, nước sẽ tràn ra hai bên trong những trận mưa lớn. Đây là lý do nhiều điểm ngập cục bộ trong vùng nằm đúng chỗ từng có suối chảy qua.
Suối cũng là nơi dễ bị xả thải và vứt rác. Rác trôi theo suối ra sông, nước thải chưa xử lý từ các cơ sở dọc suối cuối cùng đổ vào nguồn nước chung. Giữ suối thông thoáng và sạch là việc có lợi trực tiếp cho người sống hai bên bờ.
Đường phân thủy: nước chảy về sông nào
Một khái niệm hữu ích khi đọc địa hình là đường phân thủy, tức đường nối các điểm cao nhất chia nước mưa về hai phía. Ở Bắc Tân Uyên, phần lớn nước mưa cuối cùng đều về sông Đồng Nai, có phần về trực tiếp, có phần qua sông Bé trước. Ranh giới giữa hai lưu vực nhỏ chạy theo các dải đồi cao nhất trong vùng.
Biết nước từ chỗ mình chảy về đâu giúp hiểu nhiều chuyện. Nếu nhà nằm ở phía dưới một khu công nghiệp theo hướng dòng chảy, nước mưa chảy tràn từ khu đó có thể đi qua đất nhà mình khi mưa lớn. Nếu vườn nằm ở chân dốc bên dưới một khu đất mới san, bùn đỏ có thể tràn xuống vườn mỗi mùa mưa. Nếu suối gần nhà nhận nước từ phía một bãi rác, chất lượng nước giếng gần suối có thể bị ảnh hưởng.
Người dân không cần bản đồ chuyên môn để biết điều này. Quan sát hướng nước chảy trong một trận mưa lớn, đi dọc rãnh nước xem nó dẫn về đâu, hỏi người lâu năm về đường nước cũ, là đủ để có bức tranh cơ bản về vị trí nhà mình trong dòng chảy của vùng.
Các dạng địa hình trong vùng và điều cần lưu ý
Bảng dưới gom các dạng địa hình phổ biến ở Bắc Tân Uyên, kèm cách sử dụng thường gặp và lưu ý khi chọn chỗ ở, chỗ làm. Đây là mô tả định tính.
| Dạng địa hình | Đặc điểm | Thường được dùng để | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Đỉnh đồi, lưng đồi | Cao ráo, thoáng gió, đất đỏ hoặc sỏi đỏ | Nhà ở, xưởng, vườn cây lâu năm | Giếng có thể sâu, mùa khô thiếu nước |
| Sườn đồi thoải | Dốc nhẹ, nước chảy tràn nhanh | Cao su, cây ăn trái, đường men sườn | Xói mòn khi để đất trống, đường trơn mùa mưa |
| Chân dốc | Nhận nước và bùn từ phía trên | Nhà ở dọc đường, nhà trọ | Nước mưa dồn về, có thể ngập ngắn khi mưa to |
| Thung lũng, khe suối | Đất ẩm, thấp, có nước chảy theo mùa | Ruộng, ao, vườn rau trước đây | Ngập khi mưa lớn, san lấp dễ gây ngập chỗ khác |
| Bãi ven sông | Thấp, đất phù sa, sát mép nước | Rau màu, vườn, bến | Ngập khi nước sông lên, bờ dễ lở |
| Vùng đã san lấp | Bằng phẳng nhân tạo, nền đắp | Khu công nghiệp, khu dân cư mới | Nền đắp có thể lún, làm đổi dòng nước xung quanh |
Không có dạng địa hình nào hoàn hảo. Mỗi vị trí có ưu thế và rủi ro riêng; điều quan trọng là biết trước để chuẩn bị, thay vì phát hiện sau khi đã ở.
Cũng nên nhớ rằng đường nước có thể thay đổi theo thời gian. Một con đường mới, một bức tường rào dài, một khu đất được tôn nền có thể bẻ hướng dòng chảy mà mắt thường khó thấy cho tới trận mưa lớn đầu tiên. Vì vậy sau mỗi công trình lớn mọc lên quanh nhà, nên quan sát lại đường nước trong mùa mưa kế tiếp thay vì tin vào kinh nghiệm của những năm trước.
Hồ, ao và những vùng nước nhân tạo
Ngoài sông suối tự nhiên, cảnh quan Bắc Tân Uyên còn có nhiều vùng nước do con người tạo ra. Có những hồ chứa nhỏ và đập dâng phục vụ tưới tiêu, những ao nuôi cá trong vườn, những hồ điều hòa trong khu công nghiệp và khu dân cư mới. Có cả những hố nước sâu hình thành sau khi khai thác đá, sỏi đỏ, cát — loại này nguy hiểm hơn nhiều so với vẻ ngoài và được viết riêng ở bài về mỏ đá.
Hồ ao nhân tạo giúp chứa nước mùa mưa, điều hòa vi khí hậu, là nơi cá, chim trú ngụ. Với người dân, đây thường là nơi câu cá, hóng mát. Nhưng hồ ao trong vườn, trong khu đất trống chưa có rào chắn cũng là nơi trẻ nhỏ dễ gặp tai nạn đuối nước. Nhà có trẻ con nên rào ao, dạy trẻ không chơi gần nước khi không có người lớn.
Những hồ điều hòa trong khu công nghiệp có thể nhận nước mưa chảy tràn lẫn chất bẩn từ sân bãi; không nên dùng nước ở đây để tưới rau hay câu cá ăn. Nếu không rõ nguồn nước của một hồ, cách an toàn là không dùng.
Đọc địa hình trước khi chọn chỗ ở
Đứng ở chỗ định thuê hoặc mua, nhìn xung quanh. Có sườn dốc nào đổ về phía mình không, có khe suối hay đường nước nào gần không, nhà mình cao hay thấp hơn đường và nhà bên cạnh.
Đi xem vào lúc mưa hoặc ngay sau mưa. Đó là lúc thấy rõ nhất nước chảy đi đâu, đọng ở đâu, đường có lầy không. Một ngày nắng đẹp không cho biết điều đó.
Hỏi lịch sử khu đất. Trước đây chỗ này là ruộng, ao, suối hay đồi; có được san lấp không, khi nào. Người lâu năm trong xóm thường nhớ rõ.
Chú ý các công trình lớn đang làm xung quanh. Một khu công nghiệp, một tuyến đường đắp cao mới bên cạnh có thể làm thay đổi đường nước và gây ngập trong vài năm tới.
Cân nhắc nước sinh hoạt theo độ cao. Nhà trên đồi nên hỏi có nước máy chưa, giếng sâu bao nhiêu, mùa khô có cạn không; nhà ở chỗ thấp nên hỏi chất lượng nước giếng.
Câu hỏi thường gặp
Bắc Tân Uyên có núi không?
Không có núi cao. Địa hình chủ yếu là đồi thấp lượn sóng, sườn thoải, xen giữa là khe suối và thung lũng nhỏ, dọc sông là bãi bồi. Vùng nằm ở dải chuyển tiếp giữa vùng đồi phía bắc miền Đông và đồng bằng thấp phía nam.
Vì sao nhiều khu công nghiệp chọn đặt ở vùng này?
Một phần là vì địa hình: nền đất cao, ít ngập, dễ san lấp và chịu tải tốt. Cộng thêm quỹ đất còn rộng, vị trí gần các trục giao thông nối với cảng, sân bay và đô thị lớn. Những yếu tố kinh tế khác được bàn ở mục khu công nghiệp của trang.
Các suối nhỏ ở Bắc Tân Uyên chảy về đâu?
Phần lớn các suối chảy từ các dải đồi cao xuống, cuối cùng đổ ra sông Đồng Nai ở phía đông hoặc sông Bé ở phía bắc rồi cũng nhập vào sông Đồng Nai. Nhiều suối chỉ có nước chảy mạnh vào mùa mưa, mùa khô gần như cạn.
Nhà ở chân dốc có đáng lo không?
Không hẳn, nhưng cần chuẩn bị. Nhà ở chân dốc nhận nước mưa và bùn đất từ phía trên, có thể bị ngập ngắn khi mưa lớn nếu rãnh thoát nước nhỏ. Nên nâng nền, làm rãnh dẫn nước quanh nhà và để ý những công trình san lấp mới ở phía trên dốc.
Làm sao biết khu đất từng là suối hay ao bị lấp?
Hỏi người dân lâu năm trong xóm là cách đơn giản nhất. Ngoài ra có thể để ý khu đất thấp hơn xung quanh, nước đọng lâu sau mưa, nền đất lún hoặc ẩm bất thường. Bản đồ cũ hay ảnh chụp từ trên cao qua các năm cũng có thể giúp nhận ra.
Có nên làm nhà trên đỉnh đồi để tránh ngập?
Đỉnh đồi ít ngập và thoáng, nhưng cần tính tới nước sinh hoạt, đường lên xuống mùa mưa và nền đất. Nếu có nước máy và đường tốt thì đây là vị trí thuận lợi; nếu phải dùng giếng, nên hỏi độ sâu mạch nước và tình trạng mùa khô ở khu vực đó.